Breaking

1 / 3
Caption Text
2 / 3
Caption Two
3 / 3
Caption Three

Wednesday, November 22, 2023

Một trọc phú ( ăn mày ) kiến thức

 Một trọc phú kiến thức

(bài nói chuyện tại Lễ khai giảng Đại học Fulbright, tháng 9/2022)
Trong lá thư mời của chủ tịch Đại học Fulbright Đàm Bích Thủy gửi cho tôi để dự lễ khai giảng năm nay, chủ đề được nêu ra là: Phá vỡ những khuôn mẫu và kiến tạo thế giới theo cách của bạn.
Tôi thật sự rất bối rối. Tôi không biết phải nói gì với các bạn. Có một nghịch lý ở đây, là chính tôi cũng là người bài xích chủ nghĩa kinh nghiệm. Nếu mục tiêu là phá vỡ khuôn mẫu, thì sao phải nghe lời người đi trước? Ai lại đi truyền dạy kinh nghiệm về việc thoát ra khỏi những kinh nghiệm? Để phá vỡ những khuôn mẫu, điều đầu tiên các bạn cần làm, là nghi ngờ chúng tôi, những người đi trước, chứ không phải nghe theo.
Chính tôi đã sống như vậy – đã biết đặt câu hỏi và nghi ngờ mọi thứ kinh nghiệm mà người đi trước ra sức truyền dạy – bây giờ tôi lại bảo các bạn nghe tôi đi, điều hay lẽ phải đây nè, quá là dở hơi.
Nghịch lý này tồn tại ở khắp nơi. Giống như ngay cả chủ nghĩa tự do đến cuối cũng là một hệ thống nguyên tắc ngặt nghèo, mà thỉnh thoảng, trong lịch sử người ta nhân danh chủ nghĩa tự do để áp đặt người khác bằng vũ lực. Ai lại đi áp đặt người khác phải tự do, lại còn bằng vũ lực? Kiểu tự dưng xông vào đấm người ta sưng cả mắt, ai cho phép mày nghĩ thế, mày phải suy nghĩ tự do lên.
Tôi nghĩ khá lâu, và tự hỏi rằng điều gì là quan trọng nhất mình học được trong đời, để nói trong lễ khai giảng này.
Tôi xin phép được giới thiệu với các bạn một khái niệm bằng tiếng Đức, “Bildungsphilister”. Đọc là bi-đung-phi-lis-tà. Nó là một khái niệm do Fedredrich Nietzsche đề xuất. Nghĩa của nó, tôi tạm dịch, là “trọc phú kiến thức”.
Năm 19 tuổi, tôi đọc khá nhiều triết học. Hồi đó chúng tôi không được may mắn như các bạn, Internet còn khá đắt đỏ. Năm thứ nhất đại học, tôi đi làm thuê cho một công ty truyền thông, và thường ngủ lại ban đêm ở công ty luôn, vì ở đó có điều hòa, có mì ăn liền và có máy tính vào được Internet. Ở phòng trọ không có cả 3 thứ đó, đặc biệt là mì ăn liền. Trong những đêm trắng ở văn phòng, tôi ăn mì xong thì đọc Tư bản luận của Marx, đọc Kinh Tăng chi bộ của Thích ca, đọc Đạo đức học của Kant và Zahasthustra đã nói như thế của Nietzsche và tất nhiên là chẳng hiểu gì cả. Tôi nghĩ mình đang muốn trở thành một người giỏi giang thì phải đọc, đọc thì phải đọc mấy ông nổi tiếng và các tác giả kinh điển. Nhưng có những ông như Kant thì một chữ một trang cũng không hiểu.
Nhưng cuối cùng, trong những ngày tháng đó, tôi may mắn học được một quan điểm từ Nietszche, đấy chính là việc đọc nhiều sẽ chỉ khiến các bạn trở thành một loại trọc phú kiến thức, chứ không kiến bạn thành người giỏi hơn.
Trọc phú kiến thức là cách mô tả dành cho những người đọc rất nhiều, báo chí, sách vở, ghi nhớ những kiến thức trong đó và tin rằng chúng là của mình. Bạn sẽ gặp những người như vậy ở rất nhiều nơi. Đặc biệt là trong xã hội Việt Nam hiện nay, khi mà Internet và mở cửa đến ngang xương, đổ ập vào đầu người ta một mớ tri thức và ai cũng có quyền tin rằng tri thức này thuộc về mình.
Các fanpage chuyên tầm chương trích cú; các bạn hotgirl khoe vòng eo con kiến kèm những câu chiêm nghiệm về cuộc đời; các diễn giả cả đời không có công trình thực tiễn, toàn nói lại sách vở phương Tây; các nhà báo, các học giả lệ thuộc vào việc phải trích lời danh nhân nào đó… Và nó không chỉ diễn ra trong lĩnh vực khoa học. Nếu các bạn follow đủ số lượng các fanpage và instagram, các bạn sẽ nhận được một rừng những tri thức về cuộc đời, về tình người, về cách sống – được dẫn lại từ đâu đó. Chúng ta đang sống trong một thời đại của copy and paste.
Bạn, ngày mai, có thể trở thành người như thế. Đọc được cái này sướng quá, và nghĩ là mình thế là hiểu biết hơn người khác rồi. Ngày mai xưng xưng đi hỏi bạn bè, mày có biết vì sao thị trường nhà đất Hoa Kỳ và Phố Wall sụp đổ năm 2008 không, tao vừa xem hết một bộ phim của Michael Moore. Deep lắm, để tao giải thích cho. Trọc phú kiến thức sẽ nói chuyện kiểu đấy.
Tôi và nhiều thầy ở đây sẽ nói rằng kể cả bạn có xem hết Michael Moore, Adam McKay và đọc hết cả Noam Chomsky, bạn chưa biết chuyện gì đã xảy ra ở Mỹ đâu. Phải cho đến lúc bạn thực sự nhìn hệ thống ngân hàng và thị trường BĐS Việt Nam vận hành - ở Việt Nam, và năm 2022 này - bạn mới hiểu chuyện gì đã diễn ra ở Mỹ năm 2008. Đó thường là cách mà tri thức tự thân hình thành.
Việc đọc, ghi nhớ, và nói lại những tri thức đã được viết thành sách vở không sai. Nhưng nó không bao giờ đúng. Bởi vì tri thức thực sự chỉ hình thành thông qua quá trình chiêm nghiệm, trải nghiệm, hấp thụ, tự phản biện, tự luận. Nếu Noam Chomsky đã nói ra câu gì đó, dù nó không chê vào đâu được, nó cũng sẽ chỉ trở thành tri thức của bạn, nếu bạn thực sự quan sát, chiêm nghiệm với những điều đang diễn ra trong thế giới của mình. Nếu nó không tự hình thành bên trong, bạn cũng chỉ là kẻ nói nhại người khác.
Đó là ý nôm na của Nietszche khi đề xuất khái niệm “trọc phú kiến thức”. Tôi may mắn nhớ được điều này vào năm 19 tuổi, để tránh trở thành một người như thế.
Phải tránh trở thành một người như vậy, vì sống như một trọc phú kiến thức rất sang trọng. Nói ra những điều mình đã đọc, đã xem, đã nhớ thì có gì mà sai? Đứa khác không đọc thì nó ngu nó thiệt, chứ tôi chăm chỉ đọc sách báo, xem phim tài liệu trên Netflix, tôi có quyền được nói lại những điều trong đó. Đó là tri thức của tôi.
Các thầy cô ở đây sẽ nói với các bạn rằng có những điều nghe rất đơn giản, thậm chí sáo mòn, nhưng cho đến khi người thực sự trải qua và chiêm nghiệm, họ mới nhận ra rằng đó là tri thức của mình.
Để tôi kể cho các bạn một câu chuyện vui. Ở trên tôi nói rằng những tháng năm thanh niên tôi đọc kinh Tăng chi bộ của Thích Ca. Trong Tăng chi bộ, có mấy điều mà Phật dạy các Tì kheo, trong đó có một điều mà năm đấy tôi tâm đắc lắm.
Câu đấy là: “Tâm tư thế giới, thời không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến người nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ”.
Câu này để diễn nôm lại thì ngày đấy tôi cũng làm được. Đại loại, chúng ta, thế giới của chúng ta, những điều đang diễn ra xung quanh chúng ta là vô minh, không nên cố gắng đi tìm bản chất của chúng. Nếu cố hiểu được tâm tư thế giới, chỉ có phát điên.
Chuẩn rồi. Tâm đắc lắm. Hay. Các bạn nhớ câu này nhé.
Bây giờ đến câu chuyện. Có một giai đoạn, tôi quen hai cô gái, và không thể quyết định được rằng mình sẽ yêu ai. Cũng không phải là lừa, vì tôi có nói với một trong hai cô rằng cô kia là người yêu của tôi. Cái cô tạm gọi là “thứ 3” này cũng đang có người yêu. Cảm mến nhau thì hay gặp gỡ, đi chơi, tụ tập cùng bạn bè chung. Nhưng rồi tình cảm với cô bạn này cứ leo thang, và đến một lúc cả hai bạn gái đều không thể chịu đựng được nữa, họ quyết định gặp nhau nói chuyện cho ra nhẽ.
Tôi cũng không biết cuộc gặp diễn ra như thế nào. Nhưng đi về thì tôi gặp bạn không chính thức trước. Bạn ấy bảo mình đừng gặp nhau nữa, Hoàng về đi.
Các bạn biết lúc đấy tôi nói cái gì không? Tôi là trọc phú kiến thức mà, tôi ngoài 20 tuổi và đang thức đêm đọc sách triết học, và tôi tin rằng các cô ấy yêu tôi một phần vì tâm hồn trọc phú này. Tôi nói với cô ấy:
“Tâm tư thế giới, thời không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến thì người nghĩ chỉ đi đến cuồng loạn và thống khổ”.
Tôi trích Phật Thích Ca để giải quyết vấn đề ái tình luôn. Thề.
Cô ấy bảo tớ chẳng hiểu gì cả, bạn về đi.
Chuyện sau này cũng bung bét vì tôi cũng chẳng quay lại với bạn người yêu chính thức được.
15 năm trôi qua. Bỗng nhiên một ngày chúng tôi gặp lại. Chỉ còn tình cảm của những người bạn cũ. Chúng tôi nói chuyện về cuộc sống, và tất nhiên, cả những điều không nên cố bận lòng trong cuộc sống. Rồi bỗng nhiên, tôi nhận ra rằng cả hai chúng tôi đến lúc đấy mới hiểu câu nói năm xưa. Đúng là tâm tư thế giới, thời không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến người nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ. Chính tôi lúc đấy mới hiểu. Và cô ấy đến lúc ấy mới hiểu. Chúng tôi đã ở tuổi trung niên.
Ngay cả mấy câu quote về tình yêu hay lẽ sống, chúng ta cũng thỉnh thoảng phải mất một lúc, thường là 15 đến 20 năm, mới thực sự nhận ra nó nói cái gì.
Tri thức về ái tình rất quan trọng, nhưng dù sao đây cũng là lễ khai giảng của một trường đại học. Hãy nói về vai trò của tri thức với nghề nghiệp. Với tôi thì bi kịch lớn nhất của một nhân sự, dù ở bất kỳ lĩnh vực nào, là phải vay mượn tri thức.
Tôi có nhiều bạn bè là trọc phú kiến thức. Họ có vị trí xã hội, tiền kiếm cũng không khó quá. Nó đến từ một đặc trưng của xã hội Việt Nam là cơ hội tiếp cận tri thức chưa được chia đều. Thời của các bạn thì đều hơn một chút, nhưng ở nhiều vùng sâu vùng xa, người ta cũng chưa có Netflix để xem, không có sóng 4G và một cái hiệu sách cũng không có. Thời của tôi thì khoảng cách này còn xa hơn. Tôi may mắn xin được việc làm thêm và xem Internet chùa, chứ ở những năm 2000, hầu hết bạn học của tôi chỉ có đi ngủ sớm (thức đêm thì mì cũng không có mà ăn).
Khoảng cách này cho phép một số người được đọc nhiều hơn người khác, tiếng Anh tốt hơn, kỹ năng tìm kiếm Google tốt hơn – và họ ra sức sử dụng lợi thế đó để tranh vị trí xã hội. Khoảng hai mươi năm trước, thậm chí thị trường xuất bản bị thống trị bởi các nội dung dịch thuật, phái sinh từ báo nước ngoài. Người dân không tự tìm kiếm được thông tin mà – và hình thành một đội ngũ nhà báo, chuyên gia chỉ việc nói lại những gì đọc được trên Internet là kiếm được tiền. Thậm chí nhiều tiền. Trong buổi phỏng vấn xin việc đầu tiên của tôi cách đây 16 năm, câu hỏi duy nhất tôi còn nhớ, là em hay đọc thông tin ở trang nào. Hồi đó biết đọc ở đâu là cả một loại trình độ. Lại còn đọc bằng tiếng Anh thì quá đỉnh.
Đến bây giờ những trọc phú kiến thức này vẫn còn chỗ đứng trong xã hội.
Nhưng ngược lại, tôi cũng có những người bạn cả đời chỉ viết ra những thứ nguyên bản – những thứ anh ta thực sự suy nghĩ, chiêm nghiệm được, nhặt nhạnh được, những thứ tự hiểu ra. Họ sẽ kiếm tiền chậm hơn, vì không thể sản xuất công nghiệp được. Có khi cả đời họ có một tác phẩm được biết đến thôi. Rút ruột ra thì khó hơn là đi vay mượn mà.
Cuộc đời tôi chỉ kính nể loại người thứ 2 – những người làm ra các thứ bằng tri thức nguyên bản. Loại thứ nhất dù họ có bước xuống từ một cái Mercedes dòng S, hay là trích được Kant bằng tiếng Đức, tôi vẫn thấy xót xa cho đời họ. Một cảm giác thương hại chân thành.
Bạn hẳn đã nhận ra rằng trong loại người thứ hai này, những người có tri thức tự thân, ngoài các bác sĩ, các nhạc sĩ, các nhà nghiên cứu, còn có cả bác sửa xe, bác nông dân, chị bán ốc. Họ thực sự trở thành chuyên gia trong lĩnh vực của mình nhờ vào khả năng quan sát và tự chiêm nghiệm.
Hãy tưởng tượng ra hai khung cảnh: một là việc ngồi xổm ở hàng sửa xe, và nhìn bác sửa xe gỡ tung chiếc Kawasaki của bạn ra, sờ mó, thăm khám nó và chẩn đoán bệnh, tìm nguyên nhân có âm thanh lọc cọc trong máy. Thứ hai là việc ngồi trong một khóa học được giảng bởi một vị có học vị tiến sĩ, nhưng bạn biết rằng slide trên bảng một trăm phần trăm là tài liệu nước ngoài, ông này chỉ Việt hóa ra xong nói lại sang sảng thôi. Hãy nghĩ về hai hình ảnh đó. Bạn sẽ hiểu cảm giác của tôi khi nói rằng tôi kính nể loại người này, và thương hại loại người kia.
Tại sao chúng ta cần tri thức nguyên bản nếu tri thức vay mượn vẫn kiếm ra tiền, nhanh hơn và đỡ vất vả hơn? Với tôi có hai lý do, một là sự bền vững của tri thức tự thân. Hai, là di sản bạn mong muốn để lại.
Tri thức vay mượn không bền vững, ngay cả trong việc kiếm tiền. Nếu anh chỉ nói lại điều người ta đã nói, nó sẽ trở nên lạc hậu rất nhanh. Tôi đã kể ở trên rằng thời mới mở cửa, việc kiếm tiền từ các nội dung vay mượn thống trị ngành xuất bản. Nhưng rồi tới thời của các bạn, những người có thể đọc tiếng Anh vanh vách và nắm bắt thông tin từ các nền tảng tự do như reddit chứ còn chả thèm đọc báo. Những chuyên gia này bỗng nhiên thất nghiệp. Bạn sẽ không thể tưởng tượng nổi là năm 21 tuổi, nếu điều chỉnh theo tỷ lệ lạm phát, tôi kiếm tương đương với khoảng 70 triệu mỗi tháng ngày nay, chỉ bằng việc đọc và dịch báo nước ngoài. Bạn không tưởng tượng được, vì bây giờ có ai cần cái nghiệp vụ đấy đâu? Bây giờ mà chỉ biết đọc báo bằng tiếng Anh thì coi như là không có kỹ năng gì.
Ngay lúc này, tôi cũng đang chứng kiến sự thất thế của rất nhiều chuyên gia vay mượn, các trọc phú kiến thức, các chúa tể Google này.
Những kiến trúc sư nói như vẹt về “phong cách Scandinavia”, minimalism hay “phong cách Indochine” vì người ta nói thế, chứ không hiểu được các nguyên tắc nền tảng của mỗi nền văn hóa. Họ vẫn kiếm được tiền ở vài địa phương, nhưng sẽ dần mất thị phần ở những nơi mà chất lượng sống đang tăng lên.
Những tác giả sao chép các motif từ các kịch bản Hollywood và Hàn Quốc, đặt nó vào bối cảnh Việt Nam, mà không hiểu được tình cảm và thân phận con người. Họ sẽ bị mất thị phần vào chính tay các tác giả nước ngoài – những người dành cả đời tìm hiểu một chủ đề.
Những chuyên gia truyền thông nói về các mô hình phương Tây, trích dẫn Philip Kotler hay David Ogilvy mà không hiểu được tâm lý của người Á Đông hay Việt Nam. Họ sẽ mất thị phần vào chính tay bác sửa xe tự học tôi nói ở trên: nếu bác ấy quyết định mở một chuỗi cửa tiệm, thì đó sẽ là người hiểu hơn ai hết về cách người Việt Nam đối xử và kỳ vọng ở cái xe của mình. Bác ấy sẽ hiểu Philip Kotler hơn cả những ông đọc Philip Kotler bằng tiếng Anh, và có thể tự lên một chiến lược marketing đỉnh của đỉnh.
Chúng ta đang không nói về việc ngày mai ra trường kiếm được việc làm. Chúng ta đang nói về một sự nghiệp 30-40 năm. Google không duy trì được sự nghiệp kiểu này.
Sự nghiệp của bạn chỉ bền vững nếu mỗi điều bạn nói ra đều là điều bạn tự nhận ra. Nó bền vững theo cách này: khi bạn tin vào những điều mình nói và mình làm, khi nó là một phần tâm hồn, là suy nghĩ của bạn, thì kiếm được nhiều tiền hay ít tiền không quyết định giá trị của sự nghiệp nữa. Sự nghiệp lúc này gắn với cái tôi cá nhân của bạn, treo lủng lẳng ở tim bạn, chứ không gắn với thang đo tiền bạc. Siêu bền vững.
Và hãy tin lời tôi, rằng xã hội ngày càng tôn trọng các tri thức nguyên bản. Nó sẽ thưởng xứng đáng cho bạn.
Lý do thứ hai bạn cần có tri thức tự thân, chính là di sản bạn muốn để lại. Nó cũng là chủ đề của lễ khai giảng năm nay, kiến tạo thế giới theo cách của bạn. Di sản không phải là thứ gì to tát kiểu một cái tượng đài đâu, mà là bất kỳ điều gì tốt đẹp bạn để lại thế giới này. Thế giới nó chỉ cần tốt lên một chút khi bạn rời đi, so với khi bạn bước vào, là bạn đã để lại di sản rồi.
Thế làm thế nào để có được tri thức nguyên bản? Bạn vẫn phải đọc. Đọc rất nhiều. Bạn vẫn ghi nhớ. Nhưng không phải để phun ra, để sống như một trọc phú, khoe mẽ với đám trí nhớ đó. Bạn cứ nhớ trong đầu thôi, và cuộc sống sẽ cho bạn thêm các mảnh ghép để tri thức tự hình thành. Bạn không cho phép mình nói ra một thứ gì, ứng dụng một kiến thức gì, nếu chưa tự tin rằng đó là điều bạn tự nhận ra.
Copy and paste không sai. Nó chỉ sai khi bạn không thực sự hiểu những gì mình paste. Tôi chỉ nhận ra cái gì gọi là “trọc phú kiến thức” cho đến khoảng chục năm sau khi bắt đầu ghi nhớ nó trong đầu.
Đó là một hành trình đau đớn, so với việc lên wikipedia và pinterest để tìm cái gì cóp xuống cho xong deadline. Nhưng các thầy cô ở đây sẽ nói với các bạn, là tri thức, rất thường xuyên, hình thành thông qua mất mát, đau đớn và cả ân hận.
Hành trình theo đuổi tri thức tự thân là một hành trình bất công nữa. Bạn có lúc đó giật mình nhận ra rằng bọn sao chép vay mượn đang kiếm tiền nhanh hơn mình và có vẻ sung sướng hơn mình.
Bạn sẽ tự hỏi rằng nhưng mục đích của em đi học là có công việc tốt và kiếm được tiền; việc gìn giữ cái tôi, việc kiến tạo thế giới theo cách của mình có thực sự quan trọng đến thế không.
Tôi sẽ nói, gì nhỉ. Bạn hiểu được bao nhiêu và tin vào điều gì là tùy bạn.
Bởi vì tâm tư thế giới, thời không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến, người nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
Cảm ơn các bạn.


ăn mày:

(2)
ĂN MÀY KIẾN THỨC (2)
Nhiều bạn commetn vào bài “Ăn mày kiến thức (1)” của tôi theo cách hiểu: tôi đang phản biện bài “Một trọc phú kiến thức” của KOL Hoàng Hối Hận, nhất là khi anh nâng tầm triết học mà nói rằng, khái niệm trọc phú kiến thức anh may mắn học được từ F.Nietzsche. Thực ra không phải vậy.
Tôi chỉ mượn việc nói về bài viết của Hoàng để diễn đạt cảm nhận cá nhân của mình đối một vấn đề đặt ra trong đời sống thường nhật của chúng ta: mối tương quan giữa việc “đọc” và việc thu nạp, tích luỹ và hình thành nên kiến thức của mỗi người.
Đây là một hành vi cá nhân, nói cách khác là một hành vi tự thân và mỗi người sẽ lựa chọn thực hiện nó theo cách thức, mục đích với những động lực khác nhau- tuỳ thuộc vào tính cách, điều kiện, sở thích, thời gian và đôi khi là… số phận. Chẳng hạn như với bài viết dài 5000 chữ này, bạn sẽ đọc khi có thời gian hay khi thấy nó cuốn hút, hoặc đơn giản chỉ vì tình cờ nó hiện ra trước mắt bạn?
Một ví dụ, và cũng là một tự thú chân thành: tôi đọc sách chủ yếu để giải trí, nên chỉ đọc những gì mình thích, vào những khoảng thời gian mà tôi thấy muốn đọc. Khi bị cuốn hút bởi những việc khác mà lúc đó tôi thấy thú vị hơn thì chắc chắn tôi dừng đọc. Như Nietzsche (lại Nietzsche, khổ thật, hình như tư tưởng của ông luôn phủ bóng lên cuộc đời của những kẻ từng đọc mình) nói: “Sáng sớm tinh mơ, lúc bình minh bùng vỡ, khi tất cả mọi sự đều tươi mát, nằm trong triều dương của sức mạnh mình,- thế mà đi đọc một quyển sách trong lúc như vậy thì đó chỉ là tồi bại quá đi thôi ".
Ở góc độ này, với cá nhân tôi, việc viết cũng tương đồng với việc đọc. Nó chỉ tệ hơn ở chỗ: phụ thuộc vào cảm hứng, nên khoảnh khắc nó thôi thúc, nói đúng hơn là cám dỗ được một kẻ lười biếng, ham chơi như tôi cầm lấy điện thoại và gõ phím càng ngày càng ít dần theo thời gian.
Khoảng 3 năm gần đây, tôi chỉ viết được trên Iphone và trong tư thế nằm- vì cột sống có vấn đề và cũng vì thói quen. Chính vì vậy mà lẽ ra bài viết phần 2 này phải được hoàn thành cách đây 2 ngày, nhưng một cuộc rượu cùng nhóm bạn văn kéo dài 8 tiếng, với guitar và whisky luận bàn về “sự lãng mạn đến mức không tưởng nổi” trong âm nhạc của Từ Công Phụng, cùng với chứng đau mắt đỏ sau đó đã khiến tôi delay đến tận bây giờ. Rất may là bạn bè tôi cũng hay bay hàng không giá rẻ nên chắc sẽ thể tất cho điều này.
Trở lại với Nietzsche. Vẫn biết, không thể coi những hình tượng và ẩn dụ mang tính tư biện trong triết học là những khoảnh khắc của đời sống, nhưng tôi vẫn nghĩ rằng, dù vĩ đại như Nietzsche thì không phải lúc nào cũng đúng trong mọi trường hợp và hoàn cảnh. Bằng chứng là hơn 30 năm trước, nếu tình cờ vớ được một cuốn sách hấp dẫn, tôi sẽ giống như một con nghiện, lao vào mê mải quên hết sự đời - vì đọc lúc đó là một hành vi để thoả mãn nhu cầu đang cuốn hút tôi nhất.
Lúc đó thì chả cần biết “bình minh bùng vỡ” hay hoàng hôn rớm máu mặt trời, chả cần biết “mọi sự đều tươi mát, nằm trong triều dương của sức mạnh mình” hay là mệt đứ đừ lăn mình dưới sàn đá hoa để chống chọi cái nóng oi của một ngày hè mất điện thời bao cấp, tôi sẽ kệ xác Nietzsche để trở thành một kẻ “tồi bại quá đi thôi”...
Điều duy nhất tôi ân hận khi không nghe lời răn của triết gia người Đức là chuyện tan vỡ đến 2 cuộc tình chỉ vì nói dối (con nghiện thì hay nói dối): ham đọc “Tiếu ngạo giang hồ” nên bịa chuyện để “cancel” một buổi xem phim và một cuộc cà phê vườn. Nhớ lại chuyện này, tuy phải gửi lời xin lỗi muộn màng đến em U. và em M. (chẳng biết giờ còn nhớ hay đã quên), tôi vẫn cám ơn Kim Dung tiên sinh vì đã cho tôi chìm đắm trong cảm giác say mê, ở một thế giới mà danh xưng chính- tà chỉ là những cái vỏ rỗng tuếch, những con người thực mới là nội hàm sáng tạo của nhà văn.
Nguỵ quân tử Nhạc Bất Quần của phe chính còn đáng khinh hơn hơn chân tiểu nhân Đông Phương Bất Bại của phe tà - dù cuối cùng cả 2 đều biến thành vô tính (cả về giới tính lẫn nhân tính), hi sinh cả thứ quan trọng nhất của đàn ông để đạt được danh - lợi để rồi kết thúc trong bi kịch. Đó là chưa kể đến việc thuở ấy chưa có Internet, khát vọng nhất thống giang hồ chưa chắc đã mạnh hơn khát vọng câu like. Còn cặp tri âm tri kỷ một chính một tà Lưu Chính Phong của Hành Sơn và Khúc Dương của Nhật Nguyệt Thần Giáo đã sẵn sàng đón nhận cái chết để tấu khúc tiếu ngạo giang hồ với lòng tin không thay đổi về một lẽ giản đơn trong cuộc đời: hãy sống đúng với con người mình, dù nhân thế chụp lên đầu họ cái mũ chính hay tà.
Cũng cần phải nói thêm rằng, thời chúng tôi đi học, cả Nietzsche và lẫn Kim Dung đều bị “cấm”. Một người bị coi là “phản động” vì một lý do trớ trêu: Hitler -với tư cách cá nhân- rất thích, thậm chí sùng bái tư tưởng siêu nhân của ông. Người kia thì bị coi là “đồi truỵ”, vì lý do trớ trêu hơn nữa: tác phẩm của ông bi coi là rẻ tiền, kích động bạo lực, và bị gọi với một cách rất khinh thị là “truyện chưởng”.
Ít hơn tuổi 19 của Hoàng, khi đó mấy đứa sinh viên Tổng hợp Văn chúng tôi thường là phải lén lút chuyền tay nhau những tác phẩm của Kim Dung in trước 1975 được dịch giả Hàn Giang Nhạn chuyển ngữ- những cuốn sách thường là mất bìa, nát bươm, có khi bị xé đi mất những chương gay cấn nhất. Còn “Zarathustra đã nói như thế” của Nietzsche thì tình cờ tôi tìm được trong thư viện khoa Văn một bản dịch đánh máy trên giấy pơ-luya mỏng dính và ố vàng. Bản dịch đề tên học giả Phan Ngọc.
Tôi đồ rằng, chính trong thời gian bị quy chụp oan uổng về tư tưởng, không được giảng dạy và bị phân công về làm thủ thư thư viện khoa, Phan Ngọc đã chuyển ngữ một số trước tác của những nhà kinh điển. Bằng chứng là tôi cũng đã tìm được một bản dịch trong tình trạng tương tự- một tiểu luận vô cùng hay của Roland Barthes - nhà phê bình kiêm triết gia người Pháp theo chủ nghĩa cấu trúc có tựa đề: “Độ không của việc viết”. Sau này, tôi có được đọc một bản dịch khác của nhà văn Nguyên Ngọc, với tựa đề khác một chút xíu: “Độ không của lối viết”. Bản dịch này rất thâm ảo, nhưng tôi không thích bằng bản của Phan Ngọc, vốn gây ấn tượng mạnh với tôi bởi văn phong vừa bảng lảng, mơ hồ vừa khốc liệt, mạnh mẽ khi ông chuyển ngữ một tác phẩm rất khó - mang tính tư biện cao của Roland Barther - với rất nhiều quan điểm về sự phát triển của ngôn ngữ văn bản trên cơ sở những nguồn mạch lịch sử, văn hoá chảy qua tâm trạng thời đại với các tác giả cụ thể.
Để được đọc, thuở đó chúng tôi sẵn sàng hy sinh một phần học bổng của mình để mua dăm điếu thuốc đầu lọc cho bạn bè là chủ nhân của những thứ sách “hàng hiếm”, vận dụng tối đa trí thông minh và tính láu cá của học trò để lừa các thầy quản lý thư viện. Thậm chí, nếu không mua được thì xin, nếu không xin được thì “thuổng”. Nói một cách hình tượng, nếu hồi đó có phải ăn mày kiến thức thì lũ sinh viên chúng tôi cũng sẵn sàng xé quần xé áo, may túi ba gang mang đi mà đựng. Ờ, thì một nền văn hoá vĩ đại như Trung Hoa cũng còn phải nhờ vả ông cao tăng Đường Tam Tạng trèo đèo lội suối Tây du 14 năm đi xin kinh-nói trắng phớ ra là khất thực tri thức-cơ mà, có sao đâu?
Thêm nữa, càng đọc, càng tích luỹ được thêm kiến thức, chúng tôi càng thấy thiếu, càng thấy biển kiến thức quá là mênh mông, càng thấy những tượng đài như Nietszche, hay Kant, hay gần hơn như người thầy Phan Ngọc mà mình chưa được học ngày nào, quá xa vời. Và cho dù 100 gã sinh viên khoa Văn ngày ấy thì có đến 99 gã mắc bệnh vĩ cuồng - một căn bệnh đáng yêu của tuổi trẻ - chắc chắn cũng không có đứa nào dám tưởng tượng rằng có một khái niệm “ trọc phú kiến thức” trên đời này.
Nói một cách khác, người càng đọc nhiều, càng nạp thêm kiến thức thì càng thấy mình đọc chưa đủ, càng hiểu rõ hơn một sự thật : mình luôn và vẫn đang là một kẻ nghèo khổ về kiến thức. Ngay cả trong những bữa rượu say nhất, đại ngôn nhất -nhất quả đất, chiều nay anh em mình uống cạn- như câu thơ của một gã học trên sau “tăng ca “ cùng lớp với tôi, hoặc ngay cả khi tự vỗ ngực cho rằng, ngoài mấy gã khoa Văn Tổng hợp chúng ta, phần còn lại của thế giới không xứng để đối ẩm và đàm đạo, thì cũng không có gã vĩ cuồng nào cả gan gán ghép kiến thức với một từ ở phía hoàn toàn đối lập với nó: trọc phú.
Nếu được trở lại những bữa rượu thuở sinh viên đi học, tôi nghĩ rằng gã nào trong chúng tôi cũng phải thốt lên những lời cảm thán. Hẳn sẽ kiểu như : lạy Chúa - và lạy Phật Thích ca (tác giả của Kinh tăng chi bộ mà KOL đọc năm 19 tuổi). Nếu các vị cho Nietszche xuyên không trở lại, chúng con đoan chắc ông sẽ ngơ ngác, thậm chí hoảng hồn khi tháng 9 năm 2022 bỗng hiện lên một KOL tự xưng đệ tử (nguỵ truyền chăng?) khoác cho ông một khái niệm nặng như hư vô bằng tuyên ngôn:“ Tôi may mắn học được một quan điểm từ Nietszche, đấy chính là việc đọc nhiều sẽ chỉ khiến các bạn trở thành một loại trọc phú kiến thức chứ không khiến bạn thành người giỏi hơn”. Và nếu ông biết cái khái niệm “trọc phú kiến thức” huyền hoặc này được đệ tử tự xưng của ông chuyển nghĩa từ thuật ngữ “Bildungsphilister”, chắc ông đã không viết “Zarathustra đã nói như thế”, đơn giản vì “Hoàng Hối Hận đã nói như thế” trước đông đảo sinh viên trong lễ khai giảng của Đại học Fulbright Việt Nam.
Sở dĩ tôi tự đưa bản thân và bạn bè sinh viên ở nơi tôi học hơn 30 năm trước ra làm minh chứng cho câu chuyện này, vì nó là chuyện gần ngay trước mắt, còn những chuyện xa tận chân trời như ở tận nước Mỹ thì tôi không dám lạm bàn vì không đủ trải nghiệm để tự luận, tự biện như KOL thời đại tri thức số. Chỉ biết rằng, dẫu đọc chủ yếu để giải trí (có lẽ vì thời đó chưa có internet, đọc nhiều cũng chẳng dùng để câu like được), nhưng tôi cũng nhận thấy rằng, những cuộc rong chơi qua sách vở đã giúp mình thu nhận- dù là theo kiểu lượm lặt- được rất nhiều kiến thức, nếu không nói là đa phần kiến thức trong đời mình. Nói cách khác, Nietzsche và Kim Dung, thông qua “Zarathustra đã nói như thế” và “Tiếu ngạo giang hồ”- theo những cách rất khác nhau- đã chuyển giao cho tôi rất nhiều điều, cả về quan điểm sống, về thế giới xung quanh tôi, và quan trọng hơn là việc biết tư duy để khác với một cây sậy đơn thuần ( Pascal chả nói: “Con người là một cây sậy, nhưng là một cây sậy biết tư duy” là gì?).
Còn để giỏi hơn ư? Khái niệm giỏi rất rộng và mơ hồ, nên tôi mạnh dạn khu biệt lại theo nghĩa mà tôi hiểu: người giỏi là người có kiến thức hiểu biết (bao gồm cả tri thức, kỹ năng, tầm nhìn, trải nghiệm ) sâu và rộng hơn người khác về tổng thể hoặc về một lĩnh vực. Cá nhân tôi cho rằng, trước hết tôi phải hiểu biết rồi tôi mới giỏi được. Kể cả những điều tôi trải nghiệm qua cuộc sống (cụ thể là nghề nghiệp mà tôi đã theo đuổi nửa đời vì mưu sinh), đôi khi cũng nhờ đọc những cuốn sách của người đi trước- những bậc thầy trong nghề - đã lý giải, phân tích, khái quát hoá thành kiến thức để chuyển giao cho người sau, mà tôi sáng tỏ ra nhiều điều, thoát ra khỏi những khoảnh khắc, đôi khi là cả những giai đoạn vô minh và lạc hướng, bế tắc khi tìm lối đi mới trong suốt mấy chục năm hành nghề chữ nghĩa.
Đấy là đối với một kẻ lười biếng, ham chơi, thích đủ thứ nên chả có thời gian nhiều để đọc như tôi. Tôi đọc như một cuộc rong chơi hứng thú theo kiểu cưỡi ngựa xem hoa, do vậy chưa bao giờ dám nhận mình là người giàu có kiến thức, hoặc ngắn gọi hơn, là TRÍ THỨC, theo nghĩa viết hoa. Nhưng trong bạn bè cùng lớp Đại học của tôi, từ này có thể dùng ít nhất cho 2 người. Và để được bạn bè cùng lớp thừa nhận, đương nhiên họ phải là người GIỎI trong số chúng tôi.
Khoá sinh viên Tổng hợp Văn K30 có 3 lớp Văn-Ngữ -Hán, nhưng chỉ có 24 người. Ngoài tôi là hạng kém cỏi và lười biếng, hầu hết còn lại đều là những người giỏi giang vì chịu đọc, nghiêm túc với việc đọc. Nhiều người trở thành danh sư, nhà văn, nhà nghiên cứu, nhà quản lý. Còn đứng đầu hoặc làm cấp phó cơ quan báo chí quan trọng và chính thống (không phải như cơ quan báo chí tuy có lượng bạn đọc kha khá nhưng chỉ mang tính chất hội hè mà tôi đang công tác) thì có thể “lấy đấu mà đong”. Tôi chỉ xin lấy 2 người làm dẫn chứng cho nhận định của mình.
Người thứ nhất là một danh sư. Tôi nói vậy không quá, bởi anh đã từng đứng đầu một cơ sở giáo dục Đại học lớn nhất nước, và giờ được giao trách nhiệm đứng đầu cả ngành. Có thể gọi anh là một bậc túc nho hiếm hoi ở lứa tuổi ngoại ngũ thập (nếu không kể các vị thầy đáng kính của chúng tôi, giờ đã cao niên), nhưng anh cũng là người từng thụ giáo tại Harvard ở bậc học sau tiến sĩ. Từng học cùng và từng cùng được giữ ở lại trường với anh để giảng dạy, tôi là người biết rằng ngoài sức đọc kinh khủng, anh là người có ý thức đọc nghiêm túc những vấn đề trong lĩnh vực mà anh đang nghiên cứu.
Sau khi tôi “mất dạy”, bỏ trường đi làm báo kể từ 1994, sự đọc của tôi càng mai một thêm và khoảng cách giữa chúng tôi về kiến thức, về công việc ngày càng xa. Đó là một minh chứng cụ thể cho việc đọc càng nhiều bạn sẽ càng giàu có hơn về kiến thức, và đương nhiên sẽ khiến bạn thành người giỏi hơn. Dĩ nhiên, đọc không phải là tất cả, nhưng nó sẽ là một hành vi kiểu như đốt đuốc để tìm điều hay lẽ phải, thắp sáng cho con đường chúng ta lựa chọn để dấn thân. So sánh một cách khập khiễng, ngay từ thời đi học, bề rộng của kiểu đọc cưỡi ngựa xem hoa mà những gã ham chơi như tôi có được chỉ đủ để xuất hiện một gã nửa văn nửa báo, đáo qua một chút “sư”, trong khi đó chiều sâu của việc đọc khiến bạn cùng lớp tôi trở thành một học giả uyên thâm và một nhà quản lý được đánh giá cao.
Người thứ 2 là một dị nhân, đúng hơn là một kỳ nhân Tổng hợp Văn. Anh vào khoa Văn năm 1983, khóa 28, sau đó học cùng lớp tôi, khóa 30, chỉ vì tự dưng nổi hứng xin các thầy cho về Côn Sơn “ di dưỡng tinh thần” 2 năm. Anh trán to, cực thông minh, mê triết học đến điên cuồng và có trí nhớ phi thường.Thậm chí hồi đó đám sinh viên năm dưới còn truyền nhau rằng, khi họ đọc thử bất cứ một câu nào trong Tư bản luận, anh có thể nói câu đó nằm ở trang bao nhiêu, tập mấy và bản in năm nào.
Là tín đồ của Nietzsche, anh có một câu nói nổi tiếng:”Với tao, Nietzsche chính là thượng đế, dù chính ông tuyên bố thượng đế đã chết”. Suốt 3 năm học cùng tôi, anh cùng một dị nhân khoa Văn khác đi học có 2 nửa buổi, thời gian còn lại để đọc sách, uống rượu và tranh luận về triết học, nhân sinh - những vấn đề gần ngay trước mắt, xa tận chân trời rồi thách nhau nôn đè lên … cặp phạm trù. Tôi ra trường và được giữ lại khoa để giảng dạy vài năm, anh vẫn loay hoay làm luận văn tốt nghiệp. Anh viết như điên, như thơ, như triết, chỉ duy nhất không như... luận. Nó khác biệt với khuôn mẫu và vượt ra khỏi lối tư duy trường ốc thông thường thời đó, đến mức đám sinh viên chúng tôi và thậm chí cả các thầy không ai hiểu anh viết gì và viết thế để làm gì?
Vì vậy, anh học chẵn 10 năm vẫn chưa tốt nghiệp. Nhớ lại buổi lễ bảo vệ luận văn tốt nghiệp lần thứ x đông nghẹt sinh viên khóa sau đến xem và giây phút anh hùng dũng đề nghị phản biện lại thầy phản biện, tôi chợt nghĩ nếu ngày đó có Internet và mạng xã hội, anh đã là một KOL chất ngất trên đỉnh triệu like rồi.
30 năm sau ngày ra trường, khi tôi và nhiều bạn bè đuối sức chạy dọc đường số phận, lạc lối trong những ngã rẽ ngẫu nhiên thì anh vẫn như đang lang thang đi trong mùa mây trắng của thập niên 80 thế kỷ trước, với sức uống và sức đọc phi thường như nhau cho đến lúc rời xa cõi tạm. Nhớ về anh, cả một thế hệ khoa Văn đều vẫn trân trọng sự lựa chọn của anh, một lựa chọn cực đoan và mang tính cá nhân tuyệt đối: theo đuổi kiến thức bằng một niềm đam mê tột cùng của cả đời mình: đọc sách, dù không làm gì cả. Thế hệ chúng tôi, kể cả những người thành đạt nhất đều luôn coi anh là một người rất giỏi, dù tốt nghiệp xong là anh về quê, cất thật sâu vào trong rương tấm bằng cử nhân khoa Văn.
Thỉnh thoảng, khi đọc lại vài thứ, tôi vẫn nhớ về những dòng đã viết về anh vào khoảng 10 năm trước : “5 năm rồi không gặp, đến bây giờ, chắc gã vẫn ngất ngưởng trong cõi riêng của gã…Với gã, mình có chút hơi ngưỡng mộ và ghen tị. Ở cái tuổi gần ngũ thập, chạm ngưỡng tri thiên mệnh và không còn vô minh, đôi lúc mình nhận thấy chính bản thân và một số bạn bè khác mới thực sự là vong thân, trôi nổi trong đời phàm tục, làm những điều mình bắt buộc phải làm chứ không phải điều mình thích. Ở điểm này, gã hơn bạn bè cùng lứa nhiều lắm.
Đôi khi, mình vẫn nằm mơ về thời đi học ở khoa Văn, rượu say chất ngất, vĩ cuồng trên mây, cả ngày không làm gì , chỉ làm mỗi... thơ và bàn toàn những chuyện viển vông, xa rời thế sự. Mà thế sự thì nhiêu khê và mông lung lắm. “Thế sự du du nại lão hà” (Đặng Dung). Bạn bè khóa 30 đa phần đi làm báo, một số ở lại trường làm thầy, riêng gã không làm gì cả. Thế có khi lại là lựa chọn đúng. Thà không làm gì còn hơn là làm việc bắt buộc phải làm, khổ ải không chịu nổi. Nhớ về gã, mình lại tự hỏi, hơn 20 năm trước bỏ trường đi làm báo (một nghề... giết văn), rồi bỏ bút đi làm quản lý, là đúng hay sai đây? Nhưng đúng hay sai thì cũng để làm gì ?”.
Cảm khái và kể về hai người bạn cũ như vậy cũng chỉ để nói rằng, đọc tuy chỉ là một hành vi tự thân, nhưng chắc chắn nó liên quan đến việc hình thành nên kiến thức. Dù là đọc với nhu cầu gì, mục đích gì và đọc gì thì bản thân hành vi đọc-một cách tự nhiên- cũng giúp mỗi người tích luỹ, thậm chí lượm lặt được nhiều thứ giá trị trong kho kiến thức cá nhân.
Kiến thức thu nạp được qua việc đọc, xem, nghe (gọi ngắn gọn là đọc) là những tri thức xuất hiện theo dạng chữ viết, ngôn ngữ có lời hoặc không lời trên sách báo, phim ảnh, media, được giải thích và mã hóa theo hệ thống, dễ chuyển giao. Những người chỉ thu nạp kiến thức theo cách này được coi là những người theo chủ nghĩa kinh viện, có kiến thức sách vở, xu hướng xa rời thực tiễn.Trong khi đó, có những người tích lũy kiến thức bằng những tri thức lấy được từ các trải nghiệm thực tế mang tính cá nhân, khó mã hóa và chuyển giao. Đó là những kiến thức như kinh nghiệm, bí quyết, kỹ năng và đôi khi là cả đức tin …Họ được coi là những người theo chủ nghĩa kinh nghiệm.
Dĩ nhiên, nếu dung nạp được cả hai cách là tốt nhất. Nhưng nó phụ thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện, sở trường, tính cách của từng người. Cách đặt vấn đề cho rằng kiến thức kinh viện là “ tri thức vay mượn” luôn cần phải được trải nghiệm, tự phản biện, tự luận mới trở thành “tri thức tự thân” hoặc “tri thức nguyên bản” là kiểu lập luận nguỵ biện, là một góc nhìn rất cực đoan. Trong biển kiến thức mà chúng ta tiếp nhận qua hành vi đọc, mỗi người trong đời liệu có bao nhiêu cơ hội, bao nhiêu thời gian để mà trải nghiệm, chiêm nghiệm phần nhỏ trong đó?
Tri thức được những người đi trước, những người chuyên nghiệp, những trí tuệ lớn chuyển giao qua hệ thống mã hoá- mà sách và việc đọc sách là biểu hiện rõ nhất- nếu được tiếp nhận một cách trân trọng và nghiêm túc, hiểu thấu đáo và đến nơi đến chốn thì đó cũng là tri thức tự thân, tuyệt nhiên không phải tri thức vay mượn. Điều này được minh chứng qua quá trình phát triển hàng ngàn năm qua của văn minh nhân loại.
Phát ngôn cực đoan và choang choang kiểu: “ tri thức thực sự chỉ hình thành thông qua quá trình chiêm nghiệm, trải nghiệm, hấp thụ, tự phản biện, tự luận”, thực ra là cách diễn đạt khá thô thiển việc tuyệt đối hoá chủ nghĩa kinh nghiệm. Còn dĩ nhiên nếu những tri thức mà chúng ta tiếp nhận qua sách vở được “thực chiến” bằng trải nghiệm để mà chiêm nghiệm tự biện, tự luận thì còn gì bằng. Nhưng nếu “thực chiến” theo cách nói ‘trên trời” như kiểu: “Kể cả bạn có xem hết Michael Moore, Adam McKay và đọc hết cả Noam Chomsky, bạn chưa biết chuyện gì đã xảy ra ở Mỹ đâu. Phải cho đến lúc bạn thực sự nhìn hệ thống ngân hàng và thị trường BĐS Việt Nam vận hành - ở Việt Nam, và năm 2022 này - bạn mới hiểu chuyện gì đã diễn ra ở Mỹ năm 2008. Đó thường là cách mà tri thức tự thân hình thành…”, sẽ đẩy người nghe là sinh viên đến một sự hoang mang bất định, vì bản thân nguời nói cũng vô phương thực chiến như vậy. Thậm chí phóng tầm mắt khắp cõi trời Nam cũng khó có chủ ngân hàng hay doanh nhân bất động sản nào thực hiện được “cách” mà tri thức tự thân hình thành theo lời của diễn giả Hoàng Hối Hận khuyên sinh viên.
Tôi đã thấy nhiều người phản biện, thậm chí phê phán gay gắt cả chủ nghĩa kinh viện và chủ nghĩa kinh nghiệm, nhưng chưa thấy ai đủ hoang tưởng để phỉ báng những người xung quanh, trong đó có bạn bè chỉ vì họ đọc nhiều bằng một khái niệm vô nghĩa : “trọc phú kiến thức” và một tuyên ngôn thoạt nghe thì có vẻ có quan điểm khác biệt, nhưng thật ra là vô cùng độc hại đối với giới trẻ, nhất là sinh viên : “việc đọc nhiều sẽ chỉ khiến các bạn trở thành một loại trọc phú kiến thức, chứ không kiến bạn thành người giỏi hơn”.
Đến đây có thể có bạn sẽ bảo tôi rằng, một bài phát biểu của một nhà báo, một KOL mà thôi, kể cả ông có thấy sai hay nguỵ biện thì cũng có gì lớn lao đâu? Sao lại phải quan tâm nhiều thế? Người khác thì bảo, ừ thì đại ngôn, ừ thì cực đoan nhưng có sát thương ai đâu? có ảnh hưởng gì đến hoà bình thế giới đâu?
Vậy thì hãy tưởng tượng con bạn là một sinh viên đang ngồi dưới nghe bài phát biểu đó. Sáng hôm sau cậu bé đến gặp bạn và nói rằng: “Từ hôm nay, con sẽ không đọc nhiều như trước nữa. Anh Hoàng Hối Hận, một KOL nổi như cồn được đích thân chủ tịch trường mời đến nói chuyện , nói rằng con mà đọc nhiều sẽ trở thành trọc phú kiến thức mà không trở thành người giỏi hơn”. Bạn đang chưa hiểu chuyện gì xảy ra thì cậu bé nói tiếp : “Tri thức thực sự chỉ hình thành thông qua quá trình chiêm nghiệm, trải nghiệm, hấp thụ, tự phản biện, tự luận. Con sẽ đọc Noam Chomsky, ông ấy là một nhà ngôn ngữ học, một nhà hoạt động chính trị, rồi sẽ bước lên…sẽ đi…à sẽ tìm cách nhìn thị trường bất động sản và hoạt động của Ngân hàng Việt Nam để hiểu chuyện gì xảy ra ở Mỹ hơn một thập niên trước. KOL Hoàng Hối Hận nói thế.”
Bạn có thể coi đó là chuyện nhỏ. Nhưng nếu cậu sinh viên đó là con tôi thì tôi sẽ nghĩ cuộc nói chuyện đó là một cơn ác mộng.
Viết đến đây, tôi chợt băn khoăn : mình có “bi kịch” hoá vấn đề không? Không. Bi kịch đã thực sự xuất hiện ở ngay ngôi trường danh tiếng. Khi trường này vào Việt Nam, đã có nhiều kỳ vọng về sự thay đổi nhận thức trong giáo dục. Tôi tự hỏi, tại sao lại phải đưa ra hiệu triệu “phá vỡ những khuôn mẫu và kiến tạo thế giới theo cách của bạn” đối với những sinh viên 17 tuổi trong ngày khai giảng? Đây là khai phóng hay phản giáo dục? Nhưng để bàn về chuyện này, gã lười biếng lại phải viết tiếp bài 3 hay sao?
Chợt nhớ, khi kỳ cạch gõ bài 1, vợ tôi nghi ngờ lắm. “Chat với em nào mà suốt mấy tiếng đồng hồ chưa buông điện thoại thế?”- nàng hỏi. Nghe hơi gió biết giàn thiên lý sắp đổ, tôi vội đưa iphone để trình báo. Đọc xong nàng cười rũ rượi rồi hỏi rằng: “Hoàng Hối Hận là cậu nào mà giỏi vậy? Giỏi đến mức để một lão lười biếng 54 tuổi đang đau mắt, đau chân, ôm đàn lên hồ mà không gảy, cứ nằm dài ôm điện thoại mà tự kỷ thế? Mà sao mồm thì thề không bao giờ tham gia thị phi trên facebook, chân lại xông pha vào trận bút à ?”. Vợ vừa dứt lời thì lại một cậu em nhắn mesenger: “Thấy sự bất bằng tuốt gươm ra hả anh?”. Nghe mà khí uất công tâm, suýt ngã lăn ra như Chu Công Cẩn. Nghĩ thấy phục hậu sinh khả uý. Hoá ra, dù giải thích thế nào, thiên hạ vẫn nghĩ rằng mình đang phản biện bài của Hoàng. Đành học đòi kết thúc bài viết này theo lối trọc phú kiến thức của Hoàng, mượn câu khen lẫy lừng của nhân vật cũng tên là Hoàng trong “Đôi mắt” của Nam Cao mà bày tỏ nỗi lòng: “Tài thật. Tài đến thế là cùng. Tiên sư cái anh Tào Tháo…”
Còn bài 3? khi nào viết ra sẽ up.


No comments:

Post a Comment